Cây tùng la hán
Thâm trầm, điềm đạm, thanh cao, đó là những điều mà ta có thể nhắc tới khi nói về tùng, quan sát tùng. Trong lịch sử, tùng được xếp vào hàng tam kiệt: Tùng, Trúc, Mai và được các thi nhân và văn nhân yêu thích đưa vào trong các sáng tác của mình.
30 tháng 5, 2026
1
Vịnh Tùng, Lý Thương Ẩn có bài Cao Tùng với đôi câu thơ đầu: “Cao tùng xuất chúng mộc/ Bạn ngã hướng thiên nhai.” (Tùng cao vượt cây cỏ/Làm bạn với chân trời”); hay Vũ Mộng Nguyên thời nhà Lê có bài thơ viết về cây tùng cảnh với bốn câu mở như sau: “Thốn căn di tự lĩnh vân thâm/ Thác tích bồn trung trưởng lục âm/ Yển kiển đương song tài sổ xích/ Sóc sâm xuất hạm nhạ thiên tầm.” (Vốn xưa tấc gốc ở sơn lâm/ Nương náu trong bồn dưới bóng râm/ Trước cửa cằn còi vừa mấy thước/ Bên hiên nảy nở muốn nghìn tầm). Dù có tồn tại ở vùng núi cao sâu thẳm hay ở vùng thành thị, phải thác gửi nơi không gian chật hẹp thì tùng vẫn cứng cỏi. Điều này có thể được lí giải dựa vào hình thế và đặc tính của cây.
Thân tùng thẳng và cứng cáp, trừ tùng cảnh như tùng liễu ra thì hướng phát triển của loại cây này luôn vươn về phía bầu trời. Đặc biệt, càng sinh trưởng ở nơi lạnh lẽo, khắc nghiệt thì tùng càng vươn cao hơn, vượt khỏi các loại cây cối, hoa thảo, tùng lặng lẽ đón ánh nắng, bốn mùa xanh tươi, chẳng màng tới thế sự. Phong ba bão táp có nổi lên cũng không cúi đầu, cho dù phải chịu cảnh gẫy gập, ngã đổ. Bởi vậy, Tùng trở thành loại cây tượng trưng cho khí tiết của quân tử. Thêm vào đó, nhựa tùng còn có tác dụng chữa bệnh và là loại hương liệu quý.
Đối với vườn Nhật, tùng giữ một vị trí quan trọng. Kết hợp với đá, với nước, với rêu xanh, với phòng trà, tùng như một người đứng tuổi lặng lẽ ngồi đó, sẵn sàng trả lời những câu hỏi của hậu bối. Kinh qua năm tháng, tùng thu hút mọi linh khí trời đất, khiến cho khu vườn của chủ nhân trở nên tĩnh lặng, an bình. Đôi khi, chỉ ngắm một gốc tùng, mà ta có thể hiểu được thương hải tang điền.